Hội thảo nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
17/07/2026
Quang cảnh Hội thảo.
Ngày 17/7, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ Nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. TS Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và khoa học pháp lý cùng Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, TS Nguyễn Hưu Huyên đồng chủ trì Hội thảo.

Các đại biểu dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm.
Việt Nam đang trong quá trình nỗ lực, sớm kiến tạo hệ thống pháp luật chất lượng cao nhất phục vụ tiến trình phát triển đất nước. Bởi pháp luật không chỉ là công cụ để ghi nhận và điều chỉnh các quan hệ xã hội đã hình thành mà pháp luật đang trở thành bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, năng lực thích ứng với các biến động và năng lực tham gia định hình luật quốc tế.

TS Nguyễn Văn Cương.
Nhấn mạnh chủ đề của Hội thảo, Viện trưởng Nguyễn Văn Cương đề nghị các chuyên gia, nhà khoa học tập trung trao đổi, làm rõ ba nhóm vấn đề trọng tâm. Cụ thể, làm rõ các xu hướng lớn trong quá trình hoàn thiện pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia; phân tích kinh nghiệm của các quốc gia; xác định các giá trị tham khảo có thể vận dụng đối với Việt Nam.
Theo TS Nguyễn Hữu Huyên, Việt Nam có thể nghiên cứu tham khảo có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, cụ thể: cần đổi mới một cách thực chất cơ chế đánh giá tác động chính sách; cần thiết kế cơ chế tham vấn có phản hồi thực chất. Theo đó, Việt Nam có thể quy định rõ nghĩa vụ công bố bảng tổng hợp ý kiến theo nhóm vấn đề: ý kiến nào được tiếp thu, ý kiến nào không tiếp thu, lý do là gì và dự thảo đã thay đổi như thế nào. Khi phản hồi ý kiến trở thành nghĩa vụ pháp lý, tham vấn sẽ chuyển từ thủ tục sang cơ chế kiểm soát chất lượng.

TS Nguyễn Hữu Huyên.
Bên cạnh đó, cần phát triển cơ chế hậu kiểm và bãi bỏ quy định lỗi thời. Một hệ thống pháp luật có chất lượng không chỉ ban hành mới, mà còn phải loại bỏ quy định không còn cần thiết. Từ đó, nên xây dựng chu kỳ rà soát định kỳ theo lĩnh vực, chỉ số gánh nặng thủ tục, cơ sở dữ liệu phản ánh của doanh nghiệp và cơ chế kiến nghị bãi bỏ quy định.